Thông báo rút kinh nghiệm vụ án tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

17/12/2019 | 0 | 0

Ngày 27/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Thông báo số 74/TB- VC1- DS, rút kinh nghiệm về vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong việc áp dụng pháp luật để tính công sức đóng góp của đương sự trong vụ án “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”, giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C với Bị đơn: Chị Phạm Thị M và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

          Tóm tắt nội dung vụ án

          Năm 1950, bà Nguyễn Thị C kết hôn với ông Nguyễn Trọng X và sống chung với bố mẹ chồng là cụ Nguyễn Văn Th và cụ Nguyễn Thị Ch trên thửa đất số 381, tờ bản đồ số 1a, diện tích 481m2  tại huyện S, tỉnh H. Trước đó hai cụ đã  xây 01 nhà 5 gian cấp 4, 1 khu công trình phụ, 1 sân gạch. Đến năm 1974, ông X, bà C xây dựng thêm 1 căn nhà 4 gian cấp 4 và 1 khu công trình phụ, 1 sân gạch. Năm 1980, anh Nguyễn Trọng Q (là con trai của ông X, bà C) kết hôn với chị Phạm Thị M và sống cùng ông X, bà C. Năm 1995, anh Q và chị M ra ở riêng nhưng vẫn trên cùng thửa đất nêu trên. Năm 1967 cụ Ch mất, năm 1984 cụ Th mất, năm 1986 ông X mất, năm 1997 anh Q mất (tất cả đều không để lại di chúc). Năm 1998, bà C xây tường ngăn một phần đất có 1 căn nhà, 1 sân gạch, 1 khu công trình phụ (mà cụ Th, cụ Ch xây) để bà C và anh T (con trai bà C cùng ở); phần đất còn lại có 1 căn nhà, 1 sân gạch, 1 khu công trình phụ (do ông X, bà C xây) để cho chị M và các con ở. Trước đó, vào năm 1996, trước khi anh Q mất, anh Q đã làm thủ tục kê khai xin cấp GCNQSD đất đối với toàn bộ thửa đất số 381, diện tích 481 m2. Ngày 06/11/1996, UBND huyện S đã cấp GCNQSD đất số D0220167 đối với thửa đất trên đứng tên anh Q.

Ngày 06/01/2012, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị M trả lại quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 381 và tài sản gắn liền với đất cho bà C, đồng thời yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp đứng tên anh Q.

          Tại Bản án sơ thẩm số 03/2015/DS-ST ngày 28/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện S đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà  C đòi quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất nêu trên đối với chị M; Hủy GCNQSD đất do UBND huyện S  đã cấp cho ông Q;

          Xác định trong khối tài sản nhà đất trên là tài sản chung của ông X, bà C có tổng trị giá 274.190.000 đồng, trong đó ½ là của bà C. Buộc chị M có trách nhiệm trả lại cho bà C phần đất và các tài sản trên đất hiện chị M đang quản lý, sử dụng; giao cho bà C diện tích được sử dụng riêng và tạm giao cho bà C quản lý khối di sản thừa kế của ông X…. bà C có trách nhiệm thanh toán công sức cho chị M với số tiền 100 triệu đồng. Giành quyền khởi kiện chia tài sản chung đối với phần di sản thừa kế của ông X cho các bên có liên quan trong một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các đương sự có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án phúc thẩm số 02/2016/DS-PT ngày 07/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh H đã quyết định sửa án Bản án sơ thẩm: Chấp nhận kháng cáo của chị M, không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan….; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C đòi quyền sử dụng đất tại thửa đất số 381 đối với chị M.

          Ngày 28/01/2016, bà C có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên. Ngày 06/9/2018, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 25/KNGĐT- VC1- DS. Tại Phiên tòa giám đốc thẩm ngày 21/05/2019, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng nghị của Viện KSND cấp cao tại Hà Nội, hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện S để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.

          Vấn đề cần rút kinh nghiệm

- Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ và giải quyết chưa hết các yêu cầu của người khởi kiện. Tài sản là Quyền sử dụng thửa đất số 381 mà các bên đương sự đang tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ cụ Th để lại cho cụ Th và cụ Ch. Quá trình giải quyết vụ án, các con của cụ Th, cụ Ch (gồm: bà T, bà Th, bà V) và Chị M đều thừa nhận tài sản tranh chấp đã được cụ Th, cụ Ch cho vợ chồng ông X, bà C nên không tranh chấp và bà C có quyền định đoạt đối với khối tài sản nêu trên; Chính quyền địa phương cũng xác nhận nguồn gốc đất như các bên đương sự trình bày là đúng. Do đó, việc ông X, bà C có quyền sử dụng đối với thửa đất số 381 nêu trên là sự kiện không phải chứng minh, được coi là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 92 và Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự. Do thửa đất số 381 đã được Chính quyền cấp GCNQSD đất mang tên anh Q khi chưa thông qua thủ tục chuyển nhượng, tặng cho hay được thừa kế hợp pháp nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất của ông X, bà C là chính xác, đúng pháp luật và đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà C về đòi quyền sử dụng đất của chị M và yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho anh Q là có căn cứ.

Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của bà C đối với chị M vì cho rằng “Không có tài liệu chứng minh việc cụ Th, cụ Ch cho ông X  bà C nhà, đất này, cụ Th chết năm 1984, cụ Ch chết năm 1976 (thực tế cụ C chết năm 1967), ông X chết năm 1986 thì thời hiệu chia thừa kế đã hết” là không chính xác. Ngoài ra, tòa án cấp phúc thẩm không đề cập giải quyết yêu cầu hủy GCNQSD đất đứng tên anh Q là chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của đương sự, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C.

          - Thứ hai, Tòa án cấp sơ thẩm xác định trích công sức của chị M trong việc tôn tạo, duy trì khối tài sản là nhà đất đang sử dụng chung nêu trên bằng tiền là chưa đúng. Do vợ chồng anh Q, chị M có công sức rất lớn đối với gia đình bà C, ông X. Khi anh Q còn sống, vợ chồng anh chị đã tự bỏ tiền ra mua đất cho vợ chồng anh T (là em trai anh Q và là con của bà C ông X) ở. Sau khi anh Q chồng chị M chết, chị M đã đóng tiền suất đất giãn dân cho vợ chồng anh T và cùng với bà C lo ma chay cho ông X, lo cưới xin cho các em chồng. Hiện bà C và anh T đang ở phần đất phía Đông, mẹ con chị M ở phần đất phía Tây, được ngăn cách bằng tường rào do bà C xây dựng năm 1998, cả hai phần đất đều có lối đi vào riêng. Do đó việc trích công sức bằng hiện vật (quyền sử dụng đất và tài sản trên đất) từ khối tài sản chung của ông X, bà C cho chị M là cần thiết và hoàn toàn có thể thực hiện được để bảo đảm quyền lợi của chị M và các con, phù hợp với điều kiện sống hiện tại của cả Nguyên đơn và Bị đơn, đồng thời cũng thuận lợi cho việc thi hành án.

          - Thứ ba, Tòa án cấp sơ thẩm tách 1/2 khối tài sản là di sản của ông X giao cho bà C quản lý để giải quyết ở vụ án khác khi các bên có yêu cầu về chia tài sản chung nhưng lại buộc một mình bà C phải chịu trách nhiệm trả công sức tôn tạo, duy trì tài sản cho chị M đối với cả khối tài sản chung của bà C và ông X là không chính xác, trái với nguyên tắc xác định công sức trong khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C./.

 

                                        Bài viết: Vi Thị Tuyết Minh - Văn phòng VC1

Thông báo khác:

Trang: 1/1
Chuyển đến: