Thông báo rút kinh nghiệm vụ án tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án

20/11/2019 | 0 | 0

Thông qua công tác kiểm sát xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án, giữa Nguyên đơn: Bà Vũ Thị B, với Bị đơn ông Phạm Thanh C, do Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận thấy quá trình giải quyết vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm có vi phạm, cần rút kinh nghiệm như sau:

Nội dung vụ án

Ngày 05/10/2009 vợ chồng bà Vũ Thị B ông Trần Văn T nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Thanh C bà Nguyễn Thị TH thửa đất diện tích 113,6m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại Lô số 30, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố G, tỉnh B. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh B. Giá chuyển nhượng ghi trên Hợp đồng là 300 triệu đồng nhưng giá thực tế là 03 tỷ đồng. Bà B xác định chưa thanh toán tiền cho vợ chồng ông C bà TH, nhưng vợ chồng ông C bà TH đã giao nhà đất nêu trên cho bà B và bà B đã nộp đầy đủ hồ sơ ra bộ phận một cửa của Uỷ ban nhân dân thành phố G, tỉnh B.

Do ông Phạm Thanh C và bà Nguyễn Thị TH phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với người khác theo Bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nên Cơ quan thi hành án dân sự thành phố G đã có Quyết định số 23/QĐ-CCTHA ngày 10/12/2014 kê biên nhà đất nêu trên để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của ông C bà TH. Vì vậy, bà B khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký kết giữa bà vợ chồng bà B ông T với vợ chồng ông C bà TH (nêu trên).

Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2018/DS-ST ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh B đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị B. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Vũ Thị B ông Trần Văn T với ông Phạm Thanh C bà Nguyễn Thị TH ký ngày 05/10/2009 đã được Phòng công chứng số 1 tỉnh B công chứng có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Phan Thị H, ông Ngô Hữu K, bà Thân Thị M, ông Thân Văn S) về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nêu trên vô hiệu…

          Sau khi xét xử sơ thẩm, ông C bà TH kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B kháng nghị phúc thẩm, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm. Bản án dân phúc thẩm số 21/2019/DS-PT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông C bà TH và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Ngày 06/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 20/QĐKNGĐT-VC1-DS đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 21/2019/DS-PT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B.

Ngày 19/7/2019, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử giám đốc thẩm, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, với nhận định: Hợp đồng chuyển nhượng tài sản giữa vợ chồng bà B với vợ chồng ông C chưa phát sinh hiệu lực do gia đình bà B chưa thanh toán tiền mua tài sản cho gia đình ông C. Từ đó đã quyết định: Sửa Bản án dân sự phúc thẩm số 21/2019/DS-PT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh B. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị B về đề nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Vũ Thị B ông Trần Văn T với ông Phạm Thanh C bà Nguyễn Thị TH. Buộc vợ chồng bà Vũ Thị B ông Trần Văn T trả lại nhà đất tại lô số 30, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố G, tỉnh B cho vợ chồng ông Phạm Thanh C bà Nguyễn Thị TH.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm

Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông C bà TH với vợ chồng bà B ông T mặc dù đã được công chứng và ông C bà TH đã bàn giao nhà đất cho vợ chồng bà B ông T nhưng đến nay vẫn chưa được đăng ký tại có quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015, nên hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nêu trên chưa phát sinh hiệu lực;

Bà B khởi kiện đề nghị công nhận hợp đồng, nhưng bà B chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền để nhận tài sản chuyển nhượng theo hợp đồng là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán. Theo quy định tại Điều 426 Bộ luật dân sự năm 2015 thì vợ chồng ông C bà TH có quyền đơn phương chấp dứt hợp đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử công nhận hợp đồng và buộc các bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng là không đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng giám đốc thẩm đã phải sửa Bản án phúc thẩm với nội dung không công nhận hợp đồng (đã nêu ở phần trên).

Người viết: Hà Thái - Viện 2 VC1

Thông báo khác:

Trang: 1/1
Chuyển đến: